|
Tyrannosaurus rex được cho là một trong những loài khủng long nổi tiếng nhất, nhưng những khám phá mới đã liên tục thay đổi hiểu biết của chúng ta về những sinh vật khổng lồ thời tiền sử này. Ví dụ, lấy nghiên cứu mới từ một nhóm các nhà cổ sinh vật học tại Bảo tàng Tự nhiên Canada ở Ottawa, Ontario, cho thấy rằng chúng ta đã đánh giá quá thấp kích thước của T. rex kể từ khi phát hiện ra nó vào năm 1902. Theo Live Science, nhóm đã trình bày những phát hiện của họ tại một hội nghị thường niên do Hiệp hội Cổ sinh vật học có xương sống tổ chức vào ngày 5 tháng 11, nơi họ nói với những người tham dự rằng họ ước tính T. rex có thể lớn hơn gần 70% so với suy nghĩ trước đây. Mẫu vật T. rex lớn nhất được ghi nhận, có biệt danh là "Scotty", chỉ nặng dưới 20.000 pound (khoảng 9 tấn) khi nó còn sống, nhưng các tác giả của nghiên cứu nói rằng những con T. rex khác có thể nặng tới 33.000 pound (15 tấn). Và với kích thước này, nó thực sự nặng hơn hai con voi đồng cỏ châu Phi cộng lại. |
|
|
Brachiosaurus là loài khủng long đi bằng bốn chân với hai chân trước dài hơn chân sau. Hai chân trước lớn bất thường này cùng với chiếc cổ rất dài đã tạo cho Brachiosaurus một thân hình cao từ 12-16 m. Cơ thể của loài khủng long Brachiosaurus dài khoảng 85 feet (26 m) và nặng khoảng 33 - 88 tấn. Brachiosaurus là một loài động vật ăn thực vật, chúng sẽ nuốt toàn bộ thức ăn mà không cần nhai, tiêu hóa thực vật trong ruột. Sự phân loại chính xác về các loài khủng long thời tiền sử nói chung và về Brachiosaurus nói riêng vẫn còn là vấn đề gây nhiều tranh cãi giữa các nhà khoa học thuộc giới cổ sinh vật học nhưng rõ ràng có thể thấy, loài Brachiosaurus thực sự có rất nhiều loài họ hàng và là một trong những mắt xích quan trọng trong bảng phả hệ của loài khủng long thời tiền sử. |
|
|
Triceratops hay khủng long ba sừng là một chi khủng long ăn cỏ thuộc họ Ceratopsidae, sống vào thời kỳ cuối kỷ Phấn Trắng (từ 70–65 mya) ở Bắc Mỹ ngày nay. Nó là một trong những chi khủng long phi chim cuối cùng được biết tới, và đã tuyệt chủng vào Sự kiện tuyệt chủng kỷ Creta-Paleogen 66 triệu năm trước.[1] Tên Triceratops, nghĩa đen là "mặt ba sừng", xuất phát từ tiếng Hy Lạp cổ đại τρί- (tri-) nghĩa là "ba", κέρας (kéras) nghĩa là "sừng", và ὤψ (ops) nghĩa là "mặt". Có diềm xương lớn và ba sừng trên một cơ thể lớn bốn chân, tương tự như tê giác hiện đại, Triceratops là một trong những khủng long nổi tiếng nhất và là Ceratopsidae được biết đến nhiều nhất. Nó sống chung môi trường và có thể là con mồi của khủng long bạo chúa,[4] mặc dù không chắc chắn rằng cả hai có đánh nhau như trong tranh và phim ảnh. |
|
|
Velociraptor (nghĩa là "chim săn mồi tốc độ")[1] tên gọi tắt là Raptor, là một chi khủng long theropoda thuộc họ Dromaeosauridae từng tồn tại vào cuối kỷ Creta, khoảng 83 đến 70 triệu năm trước.[2] Hiện có hai loài được công nhận, một loài khác từng được phân vào chi này. Loài điển hình là V. mongoliensis; các hóa thạch của loài này được phát hiện ở Mông Cổ. Loài còn lại, V. osmolskae, định danh năm 2008 từ Nội Mông, Trung Quốc. Velociraptor có chung nhiều đặc điểm giải phẫu với Dromaeosauridae như Deinonychus và Achillobator, dù có kích thước nhỏ hơn. Nó là loài động vật ăn thịt có lông vũ, đi bằng hai chân với một cái đuôi dài, khỏe và vuốt rộng trên mỗi chi. Velociraptor được phân biệt với các chi Dromaeosauridae khác bởi hộp sọ dài, có một điểm cong lên ở mõm. |
|
|
Stegosaurus hay khủng long phiến sừng (phát âm tiếng Anh: /ˌstɛɡəˈsɔːrəs/;[1] n.đ. 'thằn lằn mái') là một chi khủng long phiến sừng thuộc cận bộ Stegosauria, sống từ Jura muộn (giai đoạn Kimmeridgia đến tiền Tithonia) ở miền Tây Bắc Mỹ ngày nay. Do những đuôi nhọn và bọc giáp, Stegosaurus là một trong những khủng long dễ nhận ra nhất, cùng với Tyrannosaurus, Triceratops, và Diplodocus. Tên Stegosaurus có nghĩa "thằn lằn mái nhà" và bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp cổ στεγο- (stego-) có nghĩa "mái nhà" và σαυρος (-sauros) có nghĩa "thằn lằn".[2] Ít nhất ba loài được nhận ra tại phần trên kiến tạo núi Morrison và được biết đến vì nhiều bộ xương còn lại. Nó sống vào khoảng 155 đến 145 mya cùng nơi và lúc mà các khủng long Diplodocus, Camarasaurus, và Apatosaurus thuộc Sauropoda đang thống trị. Stegosaurus có lẽ đã sinh sống cùng với các loài khủng long như Apatosaurus, Diplodocus, Brachiosaurus, Allosaurus, và Ceratosaurus; loài sau cùng có lẽ đã săn bắt chúng. |
|
|
Hai loài Spinosaurus đã được đặt tên: Spinosaurus aegyptiacus (nghĩa là: "thằn lằn gai Ai Cập") và Spinosaurus maroccanus (nghĩa là: "thằn lằn gai Maroc").[4][5] Di cốt được mô tả đầu tiên của Spinosaurus được phát hiện đầu thế kỷ thứ 20. Năm 1912, Richard Markgraf đã khai quật bộ xương của một loài khủng long tại Thành hệ Bahariya phía tây Ai Cập. Năm 1915, nhà cổ sinh vật học người Đức Ernst Stromer đã xuất bản một bài báo quy mẫu vật đó cho chi và loài mới gọi là Spinosaurus aegyptiacus.[4][6] Nhiều mảnh xương rời rạc lại được tìm thấy ở Bahariya, bao gồm đốt sống và xương các chi sau, được Stromer xếp là loài "Spinosaurus B" vào năm 1934.[7] Stromer coi chúng đủ khác nhau để thuộc về hai loài riêng biệt, và điều này đã được xác nhận. Với lợi ích từ các cuộc thám hiểm và các vật liệu mới, dường như những mảnh xương thuộc về chi Carcharodontosaurus[8] hoặc Sigilmassasaurus.[5] |
|
|
Pterodactyl (Công nghệ): Trình quản lý máy chủ trò chơi (game server management panel) mã nguồn mở. Nó cho phép bạn lưu trữ và quản lý các máy chủ game (như Minecraft, Palworld, CS:GO) trong các container Docker biệt lập. Tìm hiểu thêm hoặc tải xuống tại Trang chủ Pterodactyl.Pterodactyl (Khủng long): Tên gọi phổ biến của chi thằn lằn có cánh Pterodactylus sống vào cuối kỷ Jura, một trong những loài bò sát bay nổi tiếng nhất. Đọc thêm về chúng trên Wikipedia. |
|